Thứ Năm, 28/05/2020 15:26 CH
LIÊN KẾT WEBSITE
Quy trình, kỹ năng kiểm sát bản án dân sự phúc thẩm
Thứ Hai, 16/09/2019 09:50 SA
phóng to bình thường thu nhỏ
Chia sẻ:
google

Theo Quy định về quy trình, kỹ năng kiểm sát bản án, quyết định giải quyết vụ án dân sự của Tòa án (ban hành kèm theo Quyết định số 399/QĐ-VKSTC ngày 06/9/2019 của Viện trưởng VKSND tối cao), khi kiểm sát bản án phúc thẩm, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên, công chức khác được giao nhiệm vụ kiểm sát bản án, quyết định giải quyết vụ án dân sự của Tòa án (sau đây gọi chung là công chức) thực hiện quy trình, kỹ năng tại Điều 4 và Điều 5 Quy định này và lưu ý kiểm sát các nội dung cụ thể sau đây:


1. Kiểm sát thời hạn gửi bản án: Theo quy định tại khoản 1 Điều 315 BLTTDS, bản án phúc thẩm phải được gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày ra bản án. Vì vậy, công chức căn cứ ngày tuyên án phúc thẩm, ngày gửi theo dấu bưu điện trên bì thư và ngày Viện kiểm sát nhận được bản án phúc thẩm để xác định Tòa án có vi phạm về thời hạn gửi bản án không.
2. Kiểm sát hình thức bản án: Bản án được viết theo Mẫu số 75 Nghị quyết số 01/2017 và phải có đủ các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 313 BLTTDS.
3. Kiểm sát nội dung bản án
a) Phần mở đầu của bản án:
Về thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm: Công chức căn cứ quy định tại Điều 64, khoản 1 Điều 290 BLTTDS, đối chiếu với quyết định đưa vụ án ra xét xử đã được gửi cho Viện kiểm sát để kiểm sát thành phần Hội đồng xét xử.
Kiểm sát thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm: Công chức căn cứ quy định tại Điều 286 BLTTDS để xác định thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm của Tòa án có tuân thủ đúng quy định không. Trường hợp Chánh án Tòa án cấp phúc thẩm quyết định kéo dài thời hạn chuẩn bị xét xử thì cần kiểm sát về điều kiện kéo dài thời hạn là vụ án có tính chất phức tạp hoặc sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan. Kiểm sát về thời hạn mở phiên tòa xét xử phúc thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 286 BLTTDS. Thời hạn quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm theo quy định tại Điều 296 BLTTDS. Việc tạm ngừng phiên tòa phúc thẩm theo quy định tại Điều 304 BLTTDS.
Kiểm sát về thành phần những người tham gia phiên tòa phúc thẩm: Người kháng cáo, đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc giải quyết kháng cáo, kháng nghị và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự là thành phần bắt buộc được triệu tập tham gia phiên tòa. Trường hợp người kháng cáo, người không kháng cáo nhưng có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc kháng cáo, kháng nghị, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ đã được triệu tập hợp lệ mà vắng mặt thì căn cứ quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 296 BLTTDS để kiểm sát việc Toà án hoãn phiên tòa nếu vắng mặt lần thứ nhất không có lý do, việc Tòa án đình chỉ xét xử phúc thẩm nếu người kháng cáo được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do, việc Tòa án vẫn xét xử nếu người kháng cáo có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
b) Phần nội dung vụ án trong bản án: Nghiên cứu nội dung khởi kiện của đương sự yêu cầu Tòa án sơ thẩm giải quyết và kết quả giải quyết của Tòa án cấp sơ thẩm (bản án sơ thẩm), các tài liệu đương sự cung cấp (nếu có). Đối với vụ án do đương sự kháng cáo, cần xác định đương sự kháng cáo một phần hay toàn bộ bản án sơ thẩm. Nội dung đương sự kháng cáo có thuộc phạm vi giải quyết ở Tòa án cấp phúc thẩm không.
Đối với vụ án do Viện kiểm sát kháng nghị thì nghiên cứu, đối chiếu các nội dung kháng nghị của Viện kiểm sát có được thể hiện đầy đủ, chính xác trong phần nội dung của bản án phúc thẩm hay không.
c) Phần nhận định của bản án:
Đối với vụ án do đương sự kháng cáo: Nghiên cứu việc phân tích, đánh giá các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án; các tài liệu, chứng cứ do đương sự cung cấp (nếu có), kết quả xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và nhận định của Tòa án về việc giải quyết từng vấn đề mà đương sự kháng cáo, xét xử của Tòa án cấp sơ thẩm, những căn cứ pháp luật mà Tòa án áp dụng để chấp nhận hoặc không chấp nhận kháng cáo. Trên cơ sở đó, đánh giá tính có căn cứ về nhận định của Tòa án đối với các vấn đề đương sự kháng cáo.
Đối với vụ án do Viện kiểm sát kháng nghị: Xem xét việc phân tích, nhận định của bản án có phù hợp với nhận định của Viện kiểm sát trong quyết định kháng nghị. Nội dung nào trong kháng nghị mà Tòa án không chấp nhận và căn cứ của việc không chấp nhận, đối chiếu khi kiểm sát phần quyết định của bản án.
Đối với vụ án vừa có kháng cáo của đương sự, vừa có kháng nghị của Viện kiểm sát: Xem xét việc phân tích, nhận định của bản án về những nội dung kháng cáo của đương sự trùng với kháng nghị của Viện kiểm sát, những nội dung kháng cáo khác nội dung kháng nghị. Trường hợp kháng nghị của Viện kiểm sát và kháng cáo của đương sự về cùng một nội dung yêu cầu nhưng khác nhau về căn cứ thì phải xác định rõ căn cứ nào có cơ sở để bảo vệ hoặc thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị. Trường hợp đương sự rút kháng cáo nhưng nội dung đương sự rút kháng cáo có trong nội dung kháng nghị của Viện kiểm sát thuộc trường hợp bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba thì yêu cầu Hội đồng xét xử phúc thẩm phải xem xét, giải quyết những nội dung đó trong kháng nghị.
Đánh giá căn cứ pháp luật mà Tòa án viện dẫn để chấp nhận hoặc không chấp nhận kháng cáo của đương sự, kháng nghị của Viện kiểm sát (nếu có), căn cứ pháp luật để Hội đồng xét xử phúc thẩm giải quyết vụ án. Nếu vụ án thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 4 BLTTDS thì phải xem xét căn cứ Tòa án áp dụng là tập quán, tương tự pháp luật, nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ hoặc lẽ công bằng để chấp nhận hoặc không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị và giải quyết các vấn đề khác có liên quan có chính xác hay không.
d) Phần quyết định của bản án:
Kiểm sát về thẩm quyền quyết định của Hội đồng xét xử phúc thẩm, các căn cứ pháp luật Hội đồng xét xử áp dụng có phù hợp hoặc không phù hợp với phân tích trong phần nhận định của bản án để ra quyết định.
Kiểm sát các nội dung mà Tòa án tuyên: Tòa chấp nhận một phần hay toàn bộ kháng cáo, kháng nghị. Việc chấp nhận hay không chấp nhận một phần hay toàn bộ kháng cáo, kháng nghị có cơ sở hay không. Nếu nhận thấy nội dung tuyên là không có cơ sở, cần thông báo đề nghị Viện kiểm sát cấp trên kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm.
Kiểm sát việc tuyên án phí, các chi phí tố tụng và quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời (nếu có).
Tại phiên tòa phúc thẩm, nếu các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án và thỏa thuận của họ là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội thì Kiểm sát viên kiểm sát việc Hội đồng xét xử phúc thẩm ra bản án phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.


GIANG HÀ

CÁC TIN KHÁC
TIN MỚI NHẤT
SỐ TRUY CẬP
Đang truy cập
86
Hôm nay
1259
Tháng hiện tại
58651
Tổng lượt truy cập
4712350
Trang Thông tin điện tử của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên
Giấy phép số 01/GP-TTĐT ngày 21/07/2015 của Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Phú Yên.
Trụ sở: 02C Điện Biên Phủ - Phường 7 - Thành phố Tuy Hòa - tỉnh Phú Yên. Điện thoại: 0257.3535199 - Fax: 0257.3535174.
Email: banbientap@vkspy.gov.vn
Trưởng ban biên tập: Ông Lê Trung Hưng - Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên.
© Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên thiết kế và giữ bản quyền.