Thứ Tư, 22/11/2017 08:41 SA
LIÊN KẾT WEBSITE
TAND tối cao: Hướng dẫn giải quyết một số vướng mắc về tội đánh bạc
Thứ Hai, 24/04/2017 09:06 SA
phóng to bình thường thu nhỏ
Chia sẻ:
google

Tại khoản 1 Điều 248 BLHS năm 1999 quy định “1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 249 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm”.


Khoản 1 Điều 321 BLHS năm 2015 quy định “1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật có giá trị từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm ”.


Do BLHS năm 2015 chưa có hiệu lực thi hành nhưng những quy định có lợi cho người phạm tội thì được áp dụng. Do đó, quá trình giải quyết các vụ án đánh bạc, các cơ quan tiến hành tố tụng vẫn phải áp dụng quy định tại Điều 248 BLHS năm 1999 và xem xét, áp dụng quy định có lợi cho người phạm tội theo Điều 321 BLHS năm 2015. Thực tiễn hiện nay, đã và đang nảy sinh một số vướng mắc xung quanh việc áp dụng các quy định này. Vừa qua, TAND tối cao đã có hướng dẫn đối với các trường hợp sau:


1. Trường hợp 01 người bị kết án về tội đánh bạc với số tiền là 4.500.000 đồng. Sau đó, tuy chưa được xóa án tích nhưng người này lại tiếp tục đánh bạc với số tiền 262.000 đồng nên bị kết án 04 tháng tù về tội đánh bạc (cả hai lần bị kết án đều trước ngày 09-12-2015). Nếu người này chưa chấp hành hình phạt thì có được miễn chấp hành hình phạt hay không?


Theo TAND tối cao: Khoản 1 Điều 321 BLHS năm 2015 quy định: Người có hành vi đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá dưới 5.000.000 đồng, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc hoặc hành vi tổ chức đánh bạc hoặc bị kết án về tội đánh bạc hoặc tội tổ chức đánh bạc, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm thì vẫn bị xử lý hình sự.


Như vậy, cấu thành tội phạm của tội đánh bạc trong trường hợp này theo quy định tại Điều 321 BLHS năm 2015 không thay đổi so với Điều 248 BLHS năm 1999. Thời điểm bị xét xử lần hai về tội đánh bạc (trước ngày 09-12-2015), người phạm tội bị xác định là có tiền án về tội đánh bạc là đúng. Do đó, trong trường hợp này họ không được miễn chấp hành hình phạt.


2. Theo Nghị quyết số 01/2010/NQ-HĐTP ngày 22-10-2010 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao thì số tiền của người chơi để, cá độ dùng đánh bạc là tổng số tiền mà họ đã bỏ ra để mua số đề, cá độ cộng với số tiền thực tế mà họ được nhận từ chủ đề, chủ cá độ (trong trường hợp người chơi số đề, cá độ có trúng số đề, thắng cược cá độ) hoặc là tổng số tiền mà họ đã bõ ra để mua số đề, cá độ (trong trường hợp người chơi số đề, cá độ không trúng số đề, không thắng cược cá độ). Tuy nhiên, thực tế các chủ đề thường thu hút con bạc bằng cách trừ tiền hoa hồng cho những người chơi đề khi họ ghi đề. Vì vậy, dẫn đến tình trạng số tiền ghi trên tờ phơi sẽ cao hơn số tiền mà người chơi đề phải bỏ ra để mua số đề; số tiền mà chủ đề nhận được từ người chơi sẽ thấp hơn số tiền ghi trên tờ phơi. Trong trường hợp này, xác định số tiền dùng để đánh bạc là số tiền ghi trên tờ phơi hay là số tiền mà người chơi đề thực tế đã bỏ ra?


TAND tối cao cho rằng: Hiện nay, việc xác định số tiền dùng để đánh bạc (đánh đề hoặc cá độ) vẫn được thực hiện theo hướng dẫn tại các điểm a, b mục 5.1 khoản 5 Điều 1 Nghị quyết số 01/2010/NQ-HĐTP ngày 22-10-2010 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao. Theo đó, số tiền của người chơi đề, cá độ dùng đánh bạc là tổng số tiền mà họ đã bỏ ra để mua số đề, cá độ cộng với số tiền thực tế mà họ được nhận từ chủ đề, chủ cá độ (trong trường hợp người chơi số đề, cá độ có trúng số đề, thắng cược cá độ) hoặc là tổng số tiền mà họ đã bỏ ra để mua số đề, cá độ (trong trường hợp người chơi số đề, cá độ không trúng số đề, không thắng cược cá độ).


Như vậy, số tiền mà họ đã bỏ ra không chỉ là số tiền thực tế họ đưa cho người ghi đề, ghi cá độ mà phải là số tiền ghi trên tờ phơi hoặc giấy tờ khác chứng minh việc đánh bạc trái phép.


GIANG HÀ

CÁC TIN KHÁC
TIN MỚI NHẤT
SỐ TRUY CẬP
Đang truy cập
63
Hôm nay
333
Tháng hiện tại
24836
Tổng lượt truy cập
3147046
Trang Thông tin điện tử của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên
Giấy phép số 01/GP-TTĐT ngày 21/07/2015 của Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Phú Yên.
Trụ sở: 02C Điện Biên Phủ - Phường 7 - Thành phố Tuy Hòa - tỉnh Phú Yên. Điện thoại: 0257.3535199 - Fax: 0257.3535174.
Email: banbientap@vkspy.gov.vn
Trưởng ban biên tập: Ông Lê Trung Hưng - Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên.
© Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên thiết kế và giữ bản quyền.